Thuốc lào (danh pháp hai phần: Nicotiana
rustica, là một loài thực vật thuộc chi
Thuốc lá (Nicotiana). Loài này có hàm lượng nicotin rất cao. Lá của nó ngoài việc
dùng để hút còn sử dụng rộng rãi trong việc sản xuất cácthuốc trừ dịch hại hữu
cơ. Thuốc lào có hàm lượng nicotine khoảng 9%, cao hơn nhiều so với thuốc lá
thông thường (khoảng 1 - 3%).
Ở Việt Nam, cây thuốc lào được trồng chủ yếu để
hút theo tập quán củangười Việt vùng
đồng bằng, trung du Bắc Bộ đến Đèo Ngang (tỉnh Quảng Bình) và các dân tộc thiểu số từ miền
núi phía bắc đến miền tây Thanh Hóa -Nghệ An. Sau này được trồng rộng rãi ở khắp
nơi nhưng chỉ vài vùng được xem là cho sản phẩm thuốc lào nổi tiếng như Hải
Phòng và Thanh Hóa. Ngoài ra, thuốc lào còn dùng làm phụ gia khi ăn trầu.
Tập quán hút thuốc lào ở
Việt Nam
Theo Đào Duy Anh, cây thuốc lào có lẽ từ Lào (Ai Lao) du nhập vào Việt Nam nên mới có tên gọi như thế. Sách Vân
Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn và Đồng
Khánh dư địa chí gọi cây thuốc lào là tương tư thảo (cỏ
nhớ thương), sở dĩ nó có tên gọi như vậy bởi vì người nghiện thuốc lào mà 2, 3
ngày không được hút thì trong người luôn cảm thấy bứt rứt khó chịu trong đầu
luôn luôn nghĩ đến 1 hơi thuốc, giống như nhớ người yêu lâu ngày không gặp vậy
đó mới có tên là tương tư.[1] Thời xưa, ngoài miếng
trầu là đầu câu chuyện, thuốc lào cũng được đem ra để mời khách, hút thuốc
lào còn được gọi là ăn thuốc lào.
Thuốc lào sau khi gieo trồng và thu hoạch
chủ yếu được chế biến thủ công, lá được rửa, lau sạch sau đó được thái, xắt nhỏ
ra, phơi khô rồi hồ để tiện cho việc đóng thành bánh.
Thuốc lào Quảng Xương, Thanh Hóa, Việt Nam.
Bánh thuốc lào thường đóng gói cùng với 1 cái lá mía viền quanh hoặc lá mít ở 1
mặt
Ở một số vùng, thuốc lào đã thành thương
hiệu ngon nổi tiếng, như An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến An (thuộc thành phố Hải Phòng); Quảng Xương, Thanh Hóa. Trong những nơi trồng thuốc lào thì
làng An Tử Hạ nay là
làng Nam Tử thuộc Tiên Lãng được đánh giá cao hơn hẳn, vì
có tiếng là thuốc ngon và đậm khói. Thời xưa thuốc lào của Làng An Tử Hạ còn
được dùng để tiến vua và được ghi vào sách Dư địa chí của
Công cụ
Hút thuốc lào sử dụng công cụ gọi là điếu,
có ba loại chính:
·
Điếu cày:
thân điếu hình ống, hay được làm bằng tre, nứa, ngoài ra còn làm bằng kim loại nhẹ; dài khoảng 40–60 cm
nhưng cá biệt cũng có những chiếc điếu cày rất dài, phải có người khác châm lửa
thì mới hút được. Một đầu của thân điếu phải kín (nếu làm bằng tre thì lợi dụng
luôn mắt tre) để thân điếu có thể chứa nước, đầu kia hở dùng để hút. Khi chế
tác thân điếu bằng tre nứa người ta thường đục lỗ xuyên qua các mắt tre sao cho
vẫn dễ hút nhưng nước trong thân điếu khó lọt ra ngoài khi điếu bị đổ, dốc
ngược... Vị trí gần phía đầu kín của thân điếu được khoan một lỗ để lắp nõ
điếu. Nõ điếu là nơi tra thuốc lào vào để hút, thường được làm bằng gỗ hoặc
kim loại có khoan lỗ để tra thuốc, và là bộ phận quan trọng nhất, tạo nên tiếng
kêu giòn giã khi người ta hút thuốc. Nõ điếu lắp chếch về phía đầu dùng để hút
chứ không vuông góc với thân điếu cho dễ hút. Nếu chế tác cầu kỳ, thân điếu có
thể được khảm vỏ
trai hoặc chạm trổ cho đẹp mắt. Trong những năm gần đây, những chiếc điếu cày
do những tù nhân chế tác rất được ưa chuộng vì tù nhân có nhiều thời gian để
làm ra những chiếc điếu cày tinh xảo, dân dã, mang đậm nét thủ công. Hút thuốc
lào bằng điếu cày tiện lợi, vừa ngon vừa phát ra âm thanh giòn giã. Ngoài ra
thân điếu được lắp thêm móc sắt vào để treo, nhằm tránh làm nước
trong thân điếu đổ ra ngoài. Điếu cày thường được chế tác bằng vật liệu sẵn có,
dễ mang xách, giá thuốc rẻ, lại nặng đô nên được tầng lớp bình dân, lao động
dùng một cách phổ biến.
Điếu bát
·
Điếu bát:
gồm có bát điếu, thường làm bằng gốm, sứ là nơi chứa nước. Nõ điếu lắp ở phía
trên và đục một lỗ ở gần đó để cắm xe điếu vào khi hút. Xe
điếu phổ biến là bằng cần trúc nhỏ, đục rỗng ruột.
Bát điếu thường được làm những hoa văn hay hình vẽ cho có tính mỹ thuật, xe điếu cầu kỳ thì cũng có thể chạm,
khắc. Bát điếu được đặt trong một vật có hình như cái chậu nhỏ, có khi chỉ là
một cái bát sắt to nhưng cũng có khi được làm bằng sơn mài rất đẹp, nó có tác dụng chứa xái (tro
của thuốc lào khi hút xong) và nước từ bát điếu có thể tràn ra ngoài để giữ vệ
sinh. Điếu bát không thuận lợi khi mang xách nên thường dùng để hút ở nhà.
Điếu ống chạm bạc
·
Điếu ống,
còn gọi là điếu dóng: thân điếu tương tự điếu cày nhưng ngắn và to
hơn, làm bằng gỗ quý, xương ống của động vật hoặc bằng ngà... Nó có thể đặt đứng vững được khi sử dụng chứ không
cần cầm như điếu cày và có quai xách. Điếu ống được chế tác rất mỹ thuật, chạm
trổ tinh xảo, nõ điếu bịt bạc, thân cũng bịt bạc hoặc khảm xà cừ nhưng
xe điếu là một cần trúc rất dài, có khi tới 2m, đầu cũng bịt bạc. Loại điếu này chỉ những nhà giàu có
mới dùng. Khi hút người hầu châm lửa và đưa cần cho người hút. Đi đâu, thì
người hầu mang điếu đi theo. Loại điếu này hiện nay hầu như không còn được sử
dụng để hút thuốc lào nữa.
Trong quá trình sử dụng, nõ điếu bị tàn
thuốc trộn với nước bám vào nên phải dùng thông điếu để thông. Cả ba loại điếu
trên thường kèm theo một que bằng kim loại gọi là cái thông điếu, nhiều khi chỉ
cần dùng một chiếc lông gà cũng được.
Điếu bát và điếu ống có nhiều biến thể về
hình khối rất đa dạng, kết hợp với chế tác cầu kỳ, bằng vật liệu có giá trị cao
nên có thể coi là một tác phẩm nghệ thuật và
trở thành món đồ sưu tập của
những người yêu thích.
Ngoài ra khi không có sẵn điếu, người ta có
thể dùng lá chuối, giấy cuộn lại, miệng ngậm một ngụm nước là có thể hút được
thuốc lào.
Phần nước giữ trong điếu lâu ngày tức nước
điếu tích nhiều hóa chất của thuốc lào nên có tính khử độc và được
dùng trong các bài thuốc dân gian chống côn trùng như khử rệp, bắt ve chó.[2]
Cách hút.
Sợi thuốc lào được vê tròn lại thành viên
kích cỡ như đầu ngón tay út và tra vào nõ điếu. Sau đó dùng lửa để đốt cho thuốc cháy tạo thành khói
đồng thời dùng miệng để hút. Châm lửa, tốt nhất là dùng đóm, là
những mảnh tre, nứa, gỗ làm diêm... mỏng để lửa cháy trong một khoảng thời
gian vừa đủ, lại không có mùi lẫn vào như khi dùng diêm, bật lửa ga. Lúc bắt
đầu hút, người hút hít vào từng hơi ngắn để có thêm ô xy cho thuốc cháy đều và khói tích tụ trong thân
điếu rồi mới hít một hơi thật sâu kèm theo một lượng khói lớn. Trước đó, người
hút thường thổi một hơi ngắn và mạnh để xái thuốc lào văng ra khỏi nõ điếu.
Động tác này đòi hỏi phải khéo léo để xái thuốc bắn ra đúng vị trí mình muốn
(đối với điếu bát là cái chậu đựng bát điếu, đối với điếu cày thì hay dùng một
chiếc bồ nhỏ đựng xái) và phải có kinh nghiệm mới
thực hiện thuần thục được.
Khói thuốc lào đã được làm giảm nhiệt và
lọc bớt một số chất nhờ đi qua nước chứa trong thân điếu. Trong khi hút,
hơi và khói thuốc khiến cho nước chứa trong điếu và khí phát ra tiếng kêu;
người hút thích tiếng kêu phải giòn giã để tăng phần thú vị. Âm thanh này phụ thuộc cấu tạo của điếu
và lượng nước đổ vào đó. Thành phần của lá thuốc lào cũng tương tự thuốc lá và
người hút hít vào lượng khói khá nhiều trong một lần hút nên cảm giác say thuốc
mạnh hơn thuốc lá và có thể gây nghiện. Cảm giác say thuốc lào mạnh đến mức
người mới hút hoặc người nghiện nhưng hút vào buổi sáng thường bị mất thăng
bằng, nếu tư thế ngồi hút không vững rất dễ bị ngã.
Hút thuốc lào ở các dân tộc
thiểu số.
Phụ nữ Mường hút thuốc lào bằng điếu cày.
Nhiều dân tộc thiểu số cũng có tập quán hút
thuốc lào, một số nét đặc thù:
·
Người Thái: hút thuốc
lào bằng điếu ống tương tự điếu cày, riêng người Thái trắng còn có thói quen
mời những người xung quanh trước khi hút giống như khi ăn cơm.
·
Người Mường: hút
thuốc lào bằng điếu cày nhưng to hơn, cả nam giới và nữ giới đều hút, phụ nữ
khi hút còn có tập quán chuyền
tay nhau cùng hút chung một điếu.
·
Người Tày, người Mông cũng hút thuốc lào bằng loại
điếu cày nhưng thường to hơn bình thường và gọi là điếu Ục.
Tập quán tương tự hút thuốc
lào trên thế giới.
Bong của người Thái
Cùng một nguyên tắc hút qua một bộ phận
chứa nước để lọc và làm mát khói, trên thế giới cũng có nhiều kiểu sử dụng các
công cụ tương tự để hút các loại lá hay sản phẩm đã được chế biến khác nhau:
·
Có nguồn gốc từ Ấn Độ với tên gọi hookah và
khi lan truyền sang các nước Ả Rập được gọi là shisha [3] là một loại điếu hiện
vẫn đang khá phổ biến ở những nước đó cũng như được cộng đồng dân cư hải ngoại
sử dụng ở các nước khác trên thế giới. Ngoài hai tên gọi trên, nó còn có một số
tên khác như ghalyun ởIran, narghile ở Liban, Syria, Iraq, Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ, Albania, Hy Lạp,Palestine, Bulgaria, România.
·
Người Thái Lan có một loại dụng cụ rất giống
điếu cày gọi là bong (phát âm là "boong").
Nhai
thuốc lào.
Ngoài cách hút thuốc, thuốc lào còn dùng để
nhai như trường hợp ăn trầu. Khi nhai riêng thì gọi là thuốc
rê và người "ăn" ngậm một nhúm thuốc lào khô trong miệng,
kẹp giữa răng và má,
thỉnh thoảng nhai để chắt lấy nước chứ thực ra không nuốt phần bã thuốc.
Ở phương Tây thì
có thuốc lá nhai (tiếng Anh: chewing
tobacco) cũng tương tự.
Tác
hại
Chưa có một điều tra nào về tỷ lệ người
nghiện thuốc lào ở nông thôn nhưng có thể ước lượng khoảng
50% nam nông dân ở độ tuổi tuổi từ 30 trở lên tại miền Bắc hút thuốc lào[4]. Một số ít phụ nữ cũng hút thuốc
lào. Thuốc lào còn khá phố biến ở các đô thị miền Bắc, hầu như tất cả các quán
nước vỉa hè, trong các trường học bậc trên phổ thông, các trường dạy nghề...
đều có điếu cày. Tác hại của thuốc lào tương tự thuốc lá, ngoài việc tạo mùi ô nhiễm, mất
vệ sinh (mùi của nước điếu hôi và rất bền, nếu dây vào quần áo phải giặt nhiều
lần mới hết), nó còn gây nghiện, tạo cảm giác chán ăn và khói thuốc lào là tác
nhân gây gây ra các bệnh đường hô hấp, kể cả ung thư cho cả người hút chủ động và thụ
động.




0 nhận xét :
Đăng nhận xét